Website Trường THPT Bình Sơn - Sông Lô - Vĩnh Phúc

Nề nếp nghiêm, chất lượng thực, hiệu quả cao!
Đề tài: Bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên In
Viết bởi Le Gia Thanh   
Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 00:11

SỞ GD - ĐT VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN

ĐỀ TÀI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN

ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN

TỈNH VĨNH PHÚC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) với Cương lĩnh và Nghị quyết đã vạch ra phương hướng đi lên CNXH và bước đầu thực hiện CNH-HĐH đất nước. Đại hội Đảng VIII (1996) tiếp tục con đường CNH-HĐH và Đại hội Đảng IX (2001) đánh giá việc thực hiện chiến lược do Đại hội VII vạch ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI: " Chiến lược đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp"

 

Phải thấy rằng: sự phát triển của một quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc lớn vào tiềm năng tri thức của dân tộc đó. Giáo dục cùng với KH-CN là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển KH - KT và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Có thể khẳng định rằng: không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Ý thức được điều đó, Đảng ta đã thực sự coi "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" Hội nghị TW 4 khoá VII đã khẳng định "Giáo dục - Đào tạo là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai". Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã tiếp tục khẳng định "Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững". Đại hội đảng lần thứ X (2006) tiếp tục nhấn mạnh Đảng ta coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển.

Đội ngũ giáo viên có một vai trò vô cùng quan trọng để làm cho giáo dục thực hiện được sứ mệnh cao cả đó. Hồ Chủ tịch đã từng nói "Không có thầy thì không có giáo dục".  Rõ ràng phát triển đội ngũ giáo viên là yêu cầu cấp thiết, là yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển giáo dục.

Cùng với giáo dục của cả nước, trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang nỗ lực thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình với chủ đề năm học mà Bộ GD&ĐT đưa ra “ Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”; năm học tiếp tục thực hiện các cuộc vận động lớn: cuộc vận động “ Hai không”, cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo”. Nhưng hiện tại đội ngũ giáo viên của trường bên cạnh những ưu điểm đáng quí vần còn tồn tại những non yếu về chất lượng cần khắc phục kịp thời.

Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan như trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Một số biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên ở  trường THPT Bình Sơn -  tỉnh Vĩnh Phúc".

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài của tôi nhằm lý giải những tồn tại và từ đó đề xuất một số biện pháp để "Phát triển  đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn, Vĩnh Phúc".

3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài này nhằm xác định cơ sở khoa học của việc quản lý nhằm phát tiển đội ngũ giáo viên THPT,  phân tích thực trạng của việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên  trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc. Qua đó đề xuất những biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn trong giai đoạn hiện nay.

 

 

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Chỉ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Bình Sơn,  tỉnh Vĩnh Phúc.

- Thời gian nghiên cứu: Chỉ tìm hiểu, nghiên cứu tình hình phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Bình Sơn trong 3 năm học gần đây (2007-2008, 2008-2009, 2009-2010).

5. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

5.1.Đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn và tình hình phát triển đội ngũ.

5.2. Biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên của trường THPT Bình Sơn.

          6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

          Hiện nay, công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Bình Sơn chưa thật hiệu quả, vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.

          Nếu nắm được đặc điểm công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, đề xuất và thực thi được các giải pháp khắc phục tình trạng trên, sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc.

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Nghiên cứu tài liệu.

- Các văn kiện của Đảng về phát triển đất nước, phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010, Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2020.

- Giáo trình, tài liệu, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT và Sở GD& ĐT Vĩnh Phúc...

- Các tạp chí, tập san giáo dục...

7.2. Nghiên cứu thực tiễn:

Quan sát, đàm thoại, phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên trường THPT Bình Sơn, tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục của trường THPT  Bình Sơn.

7.3. Phương pháp hỗ trợ.

- Điều tra

- Khảo sát

- Thống kê

- Bảng biểu

- Sơ đồ.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ

NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT

 

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp qui luật của chủ thể quản lý các cấp đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống về mặt số lượng cũng như chất lượng.

Qu¶n lý nguån nh©n lùc trong nhà tr­êng lµ qu¶n lý con ng­êi, qu¶n lý ®éi ngò trong héi ®ång s­ ph¹m nhµ tr­êng.

Trong nhiÒu tr­êng hîp, cã thÓ sö dông hai thuËt ng÷ qu¶n lý nguån nh©n lùcqu¶n lý nh©n sù thay thÕ cho nhau. Nh­ng nÕu ®i s©u vµo ý nghÜa cña hai côm tõ qu¶n lý nguån nh©n lùcqu¶n lý nh©n sù, th× cã nh÷ng sù kh¸c nhau.

Qu¶n lý nh©n sù. §©y lµ mét kh¸i niÖm ®­îc sö dông tõ l©u khi c¸c nhµ qu¶n lý ph¶i qu¶n lý ng­êi trong tæ chøc. Qu¶n lý nh©n sù trong tæ chøc ®­îc hiÓu nhiÒu h¬n vÒ khÝa c¹nh hµnh chÝnh. §ã lµ nh÷ng ho¹t ®éng ¸p dông c¸c nguyªn t¾c quy ®Þnh cña tæ chøc, c¬ quan nh­ tiÒn l­¬ng, tiÒn th­ëng, nghØ phÐp, nghØ lÔ ®Ó qu¶n lý con ng­êi nh»m lµm cho hä thùc hiÖn c¸c ho¹t ®éng cña hä mét c¸ch tèt nhÊt.

Nh­ vËy, qu¶n lý nh©n sù ®Æt vÊn ®Ò ®Õn tõng con ng­êi cô thÓ trong tæ chøc, muèn chØ c¸c kh¶ n¨ng t¸c ®éng ®Õn ®éi ngò hiÖn cã ®Ó hä ®¸p øng ®­îc ®ßi hái cña tæ chøc.

Trong khi ®ã, qu¶n lý nguån nh©n lùc mang ý nghÜa réng h¬n qu¶n lý nh©n sù. Qu¶n lý nguån nh©n lùc mang tÝnh chÊt kh¸i qu¸t vµ xem tæ chøc nh­ lµ mét thùc thÓ cÇn cã t¸c ®éng tõ bªn ngoµi vµ kÕt hîp víi bªn trong ®Ó qu¶n lý.

Qu¶n lý nguån nh©n lùc lµ b­íc ph¸t triÓn cao h¬n cña qu¶n lý nh©n sù khi nã ®Ò cËp ®Õn c¶ viÖc qu¶n lý c¸c quan hÖ con ng­êi s¶n xuÊt, lao ®éng, vµ c¶ quan hÖ víi nh÷ng ng­êi tõ bªn ngoµi sÏ vµo lµm viÖc cho tæ chøc (nguån lùc dù tr÷ hay tiÒm n¨ng cña tæ chøc), ®Ò cËp ®Õn yÕu tè thÞ tr­êng lao ®éng cña tæ chøc. ChÝnh v× vËy, cã ng­êi gäi qu¶n lý nguån nh©n lùc lµ qu¶n lý quan hÖ s¶n xuÊt.

Nh­ vËy, nguån nh©n lùc cña mét tæ chøc kh«ng chØ lµ nh÷ng con ng­êi ®ang lµm viÖc trong tæ chøc mµ cßn nh»m chØ nh÷ng nguån kh¸c cã thÓ bæ sung cho tæ chøc. §iÒu ®ã còng cã nghÜa lµ khi nãi ®Õn qu¶n lý nguån nh©n lùc cña tæ chøc còng nh»m chØ kh¶ n¨ng t¸c ®éng cña tæ chøc ®Õn lùc l­îng lao ®éng tiÒm n¨ng bªn ngoµi tæ chøc.

Qu¶n lý nguån nh©n lùc hiÓu theo kh¸i niÖm vÜ m« khi ®Æt nguån nh©n lùc cña tæ chøc trong tæng thÓ nguån nh©n lùc quèc gia. Nh­ vËy, yÕu tè nguån nh©n lùc tæ chøc ph¸t triÓn phô thuéc kh«ng chØ yÕu tè bªn trong cña tæ chøc mµ cßn chøa ®ùng nhiÒu yÕu tè bªn ngoµi cña tæ chøc.

Theo t¸c gi¶ TrÇn Kim Dung: Qu¶n lý nguån nh©n lùc lµ hÖ thèng c¸c triÕt lý, chÝnh s¸ch vµ ho¹t ®éng chøc n¨ng vÒ thu hót, ®µo t¹o, ph¸t triÓn vµ duy tr× con ng­êi cña mét tæ chøc nh»m ®¹t ®­îc kÕt qu¶ tèi ­u cho tÊt c¶ tæ chøc vµ nh©n viªn.

Nh­ vËy, vµ vÊn ®Ò qu¶n lý nguån nh©n lùc kh«ng chØ lµ ®¬n thuÇn chØ lµ vÊn ®Ò qu¶n trÞ hµnh chÝnh nh©n viªn.

Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên ở trong tập thể sư phạm. Tập thể sư phạm trong trường học là tổ chức của tập thể lao động sư phạm, đứng đầu là hiệu trưởng. Tập thể sư phạm liên kết các giáo viên, cán bộ, nhân viên thành một cộng đồng giáo dục có tổ chức, có mục đích thống nhất, có phương thức hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà trường.

Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong tập thể sư phạm nhà trường làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường. Vì vậy cần bồi dưỡng để  phát triển đội ngũ giáo viên.

Đội ngũ giáo viên ở trong tập thể sư phạm cũng có những đặc điểm giống như đặc điểm của tập thể sư phạm.

Đặc điểm về mục tiêu: Mục tiêu của tập thể sư phạm hoàn toàn thống nhất với mục tiêu giáo dục của trường THPT là "Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục của trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề, hoặc đi vào cuộc sống lao động" (Mục 4, Điều 27, Luật Giáo dục 2005).

Trong quá trình hoạt động thực hiện mục tiêu đó, tập thể sư phạm nhà trường đảm bảo được sự thống nhất giữa nhu cầu lợi ích của từng thành viên với mục tiêu của tập thể và mục tiêu xã hội. Sự thống nhất và hài hoà ba lợi ích đó là điều kiện tiên quyết trong sự tồn tại và phát triển của tập thể. "Trong thực tiễn của tập thể sư phạm, mỗi bước đều có sự đối chọi giữa mục tiêu cá nhân và tập thể và vấn đề hoà hợp các mục đích đó. Nếu trong một tập thể còn cảm thấy mâu thuẫn giữa mục đích chung và mục đích riêng thì có nghĩa là tập thể đó chưa được tổ chức đúng đắn. Chỉ ở nơi nào mục đích chung và mục đích riêng hoà hợp, nơi nào không có sự lạc điệu thì ở đấy tập thể là tập thể vững mạnh" (Macarencô).

Đặc điểm về tổ chức: tập thể sư phạm đa dạng về cơ cấu tổ chức, bao gồm: Các tổ chức hành chính, tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể.

Tổ chức hành chính là các tổ chuyên môn, tổ hành chính, quản trị, hội đồng giáo dục và các hội đồng khác.

Giáo viên trong trường THPT được tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn học hoặc nhóm môn học, mỗi tổ chuyên môn có một tổ trưởng. Tổ trưởng và tổ phó chuyên môn có vai trò quan trọng, nòng cốt trong hoạt động chuyên môn của tổ. Nhiệm vụ của họ là xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ, hướng dẫn và quản lý kế hoạch của từng giáo viên trong tổ theo kế hoạch dạy học, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên... Tổ trưởng sử dụng các buổi sinh hoạt chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ quản lý của mình.

Mỗi tổ chức, tập thể trong trường THPT đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể và có một sức mạnh riêng ( tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban nữ công...). Người quản lý có nhiệm vụ khai thác các tiềm năng của từng tổ chức để tạo nên sức mạnh tổng hợp của tập thể sư phạm nhà trường.

Đặc điểm về lao động sư phạm: Lao động sư phạm là loại hình lao động đặc thù:

Đối tượng lao động sư phạm trường THPT là học sinh ở lứa tuổi từ 15 đến 19, lứa tuổi có sự phát triển cao về tâm, sinh lý. Học sinh có nhu cầu cao về trí tuệ và tình cảm với người thầy. Để đáp ứng nhu cầu này, giáo viên cần có kiến thức sâu rộng và lòng nhân ái sư phạm cao.

Phương tiện lao động sư phạm cũng rất đặc thù. Đó là nhân cách người thầy cùng các thiết bị dạy học, trong đó nhân cách người thầy có vai trò quan trọng nhất. Thời gian lao động sư phạm không chỉ đảm bảo đúng quy định trong chương trình mà cần mang tính năng động, sáng tạo cộng với niềm say mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm trước thế hệ trẻ và toàn xã hội.Sản phẩm lao động sư phạm là nhân cách phát triển toàn diện, đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường. Nghĩa là sản phẩm đó không được quyền có phế phẩm.

Lao động sư phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật và tính nhân đạo cao cả. Nó mang tính đặc thù của nghề sư phạm đồng thời có sự liên kết, cộng tác, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bởi vì sự hình thành và phát triển nhân cách của người học sinh cũng chịu sự chi phối của "tổng hoà các mối quan hệ xã hội" trong tập thể sư phạm nhà trường là lực lượng giáo dục chuyên biệt, có hệ thống, thường xuyên và cơ bản nhất.

Các yếu tố tâm lý xã hội: Tâm lý tập thể sư phạm được thể hiện ở các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý xã hội được diễn ra trong mỗi tập thể sư phạm nhất định.

Quá trình tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường biểu hiện ở sự giao tiếp, thích nghi, tìm hiểu, đánh giá, cảm hoá, thuyết phục, bắt chước, lan truyền cảm xúc cho nhau. Các trạng thái tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường thể hiện ở tâm lý và dư luận lành mạnh của tập thể, truyền thống của tập thể, bầu không khí tâm lý - đạo đức tập thể.

Khi các thuộc tính này được khơi dậy và phát huy thì sẽ trở thành động lực và sức mạnh tinh thần của tập thể.

Giá trị của tập thể sư phạm: Giá trị mang ý nghĩa xã hội to lớn của tập thể sư phạm đó là nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, những công dân tương lai của đất nước. Có thể nói tập thể sư phạm góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong quá trình lao động sư phạm, để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng cao cả của mình, tập thể sư phạm đã khẳng định những giá trị của tập thể mình và chính bản thân mỗi giáo viên cũng có điều kiện để thỏa mãn những nhu cầu lợi ích của mình để không ngừng hoàn thiện nhân cách. Trong tập thể sư phạm phải bảo đảm tốt nhất mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân - tập thể - xã hội.

Phát triển đội ngũ là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về mặt nội dung, phát triển  đội ngũ bao gồm bốn loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển.

Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai.

Đào tạo: được hiểu là ácc hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.

Båi d­ìng: lµ ho¹t ®éng nh»m bæ sung, cËp nhËt kiÕn thøc, kü n¨ng chuyªn m«n cho c¸n bé, c«ng chøc trong mét tæ chøc hµnh chÝnh nhµ n­íc khi mµ nh÷ng kiÕn thøc, kü n¨ng ®­îc ®µo t¹o tr­íc ®©y ®· l¹c hËu, kh«ng ®ñ ®Ó thùc hiÖn cã hiÖu qu¶ ho¹t ®éng chuyªn m«n, nghiÖp vô trong tæ chøc ®ã. Sù thay ®æi trong ®êi sèng kinh tÕ - x· héi diÔn ra th­êng xuyªn d­íi t¸c ®éng cña tiÕn bé khoa häc - c«ng nghÖ vµ ph¸t triÓn cña khoa häc qu¶n lý lµm cho nh÷ng kiÕn thøc vµ kü n¨ng ho¹t ®éng chuyªn m«n cña c¸n bé, c«ng chøc trong mçi c¬ quan lu«n bÞ l¹c hËu ®ßi hái ph¶i ®­îc båi d­ìng th­êng xuyªn. §ã còng lµ mét trong nh÷ng lý do c¬ b¶n cña triÕt lý häc tËp liªn tôc, suèt ®êi trong cuéc sèng hiÖn ®¹i cña tÊt c¶ c¸c tæ chøc nhµ n­íc còng nh­ ngoµi nhµ n­íc.

Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.

§èi víi c¸ nh©n, sù ph¸t triÓn con ®­êng chøc nghiÖp trong c¬ quan hµnh chÝnh ngµy cµng phô thuéc vµo n¨ng lùc vµ tr×nh ®é chuyªn m«n còng nh­ sù thµnh th¹o trong kü n¨ng ho¹t ®éng. §iÒu ®ã xuÊt ph¸t tõ ®ßi hái cña sù ph¸t triÓn nhanh chãng cña khoa häc, c«ng nghÖ vµ qu¶n lý còng nh­ nh÷ng biÕn ®æi nhang chãng trong m«i tr­êng hiÖn ®¹i. Vµ do vËy, viÖc tham gia tÝch cùc vµo m«i tr­êng ®µo t¹o, båi d­ìng ngµy cµng quyÕt ®Þnh ®Õn sù th¨ng tiÕn con ®­êng chøc nghiÖp cña c«ng chøc trong nÒn hµnh chÝnh.

Mục tiêu và vai trò của phát triển đội ngũ là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai.

Những cơ sở tâm lý học và xã  hội học về phát triển đội ngũ tập thể sư phạm nêu trên sẽ giúp nhà quản lý đưa ra những nội dung và biện pháp xây dựng tập thể sư phạm, phát triển đội ngũ giáo viên có hiệu quả.

1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ

Để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà trường và ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành luật giáo dục sửa đổi và bổ sung năm 2005, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành điều lệ trường THPT kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT , đó chính là cơ sở pháp lý của đề tài.

- Luật giáo dục.

+ Điều 15 chương I nói rõ "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình…".

+ Về nhiệm vụ nhà giáo, luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu chuẩn, trong đó có các tiêu chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ" ( Điều 70).

+ Mục 3 - Chương IV nói về chính sách đối với nhà giáo "Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo".

+ Điều 72 - Chương IV nêu nhiệm vụ của nhà giáo: "Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu qủa giảng dạy và giáo dục".

- Điều lệ trường THPT:

+ Điều 33 nói về trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên: Trình độ chuẩn của giáo viên THPT là tốt nghiệp ĐHSP. Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn quy định này được nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục tạo điều kiện để đạt trình độ chuẩn.

+ Điều 3 Chương I nói về nhiệm vụ, quyền hạn của trường THPT là "Quản lý giáo viên nhân viên và học sinh"; "tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục trung học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành".

- Trong giải pháp thứ hai của Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020 của Bộ GD&ĐT nêu "Tổ chức các chương trình đào tạo đa dạng nhằm nâng cao chuẩn trình độ đào tạo cho đội nguc nhà giáo. Đến năm 2020 có 80% số giáo viên mầm non và 100% số giáo viên tiểu học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 100% số giáo viên THCS và THPT đạt trình độ đại học trở lên; 20% số giáo viên các trường trung cấp nghề và 35% số giáo viên các trường cao đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 80% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 15% là tiến sỹ; 100% giảng viên đại học có trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ".

" Tăng cường trật tự, kỷ cương; xây dựng, củng cố môi trường sư phạm; phấn đấu để mọi hoạt động của nhà trường đều có tác dụng giáo dục thiết thực và sâu sắc đối với học sinh. Các tập thể sư phạm phải đảm bảo nêu cao tính gương mẫu; không chỉ giáo dục học sinh bằng việc lên lớp, giảng bài mà trước hết phải bằng thái độ tận tuỵ với nghề, thương yêu học sinh về mọi mặt..." (864/SGD-GDTrH- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2009-2010 của Sở giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc).


CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

 

2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG

          2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương.

- Huyện Sông Lô là một huyện miền núi, huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc. Số hộ đói nghèo còn nhiều. Nhiều xã có đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp. Hạ tầng cơ sở của huyện ( đặc biệt là hệ thống giao thông) còn rất yếu kém.

- Tuy nhiên, Sông Lô là một miền quê có truyền thống hiếu học. Tỉ lệ học sinh đến trường ( ở các độ tuổi) đều rất cao. Hàng năm có nhiều học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và THCN.

- Xã Nhân Đạo - nơi trường đóng cũng là một xã nghèo, đồi gò xen lẫn những cánh đồng nhỏ, hẹp. Diện tích canh tác ít. Nắng thì  dễ hạn hán. Mưa thì dễ úng lụt. Học sinh của trường gồm nhiều xã ven sông Lô và một số xã giáp chân núi Sáng Sơn ( Nhân Đạo, Phương Khoan, Đôn Nhân, Bạch Lưu, Hải Lựu, Lãng Công, Đồng Quế, Quang Yên...). Hệ thống giao thông xuống cấp, việc tới trường học tập của học sinh các xã vùng xa gặp rất nhiều khó khăn.

          2.1.2 Vài đặc điểm của trường THPT Bình Sơn.

Trường THPT Bình Sơn được thành lập từ ngày 25 tháng 8 năm 2003. Lúc đầu thành lập trường là trường bán công và được đặt gần cây tháp Bình Sơn. Nhưng do điều kiện kinh tế của nhân dân gặp nhiều khó khăn cho việc đóng học phí nên ngày 04 tháng 12 năm 2003, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định trường THPT Bình Sơn là trường công lập và xây dựng địa điểm ở xã Nhân Đạo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trường ở cuối huyện, cuối tỉnh, chất lượng đầu vào của học sinh rất thấp so với các trường THPT trong huyện ( điểm tuyển sinh khoảng 12-13,5 điểm/5 môn). Cơ sở vật chất của nhà trường còn rất thiếu thốn; sân chơi, bãi tập, cây xanh... còn đang trong giai đoạn phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện.

Tuy nhiên, trường đã được các cấp lãnh đạo, chính quyền quan tâm, đặc biệt là chính quyền các xã có học sinh học ở trường. Đội ngũ giáo viên đã yên tâm bám trường, bám lớp. Năm học 2009-2010, có 32 lớp với 1471 học sinh, có 2 lãnh đạo, 64 thầy cô giáo và 2 cán bộ hành chính.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng qua 6 năm  xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã đạt được những thành tích đáng tự hào, nhất là việc xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên. Nhà trường đã xây dựng được một tập thể sư phạm đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, phát huy được sức mạnh của mỗi cá nhân và cộng đồng. Không những phát triển về số lượng mà điều quan trọng là đã nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên trên các mặt: năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm. Một vài năm học gần đây, số giáo viên giỏi (cấp tỉnh) ngày một tăng lên. Số giáo viên được xếp loại chuyên môn khá ngày một nhiều. Nhà trường không có giáo viên bị xếp loại chuyên môn yếu, kém. Thành tích đó được thể hiện ở kết quả thanh tra  chuyên môn của Sở GD - ĐT Vĩnh Phúc ( mỗi năm thanh tra một lần), thể hiện ở kết quả thi học sinh giỏi ( cấp tỉnh) hàng năm.

Dưới đây là bảng thống kê xếp loại chuyên môn giáo viên năm học 2008-2009 (Nguồn nhà trường)

 

Môn

SL

Xếp loại

Ghi chú

G

K

TB

Y

Văn

9

2

4

3

0

 

Sử

4

1

1

2

0

 

Địa

4

1

2

1

0

 

Anh văn

5

0

2

3

0

 

GDCD

2

1

1

0

0

 

Toán

11

2

6

3

0

 

Lý

8

0

2

6

0

 

Hoá

3

1

1

1

0

 

Sinh

6

1

2

3

0

 

TD

3

1

1

1

0

 

Tin

2

1

1

0

0

 

Kỹ CN

2

0

1

1

0

 

Kỹ NN

2

0

1

1

0

 

- Tổ chức phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy học. Năm học 2008 - 2009 có một số sáng kiến kinh nghiệm được Hội đồng khoa học nhà trường đánh giá cao.

- Động viện, phát động phong trào tự học: Giáo viên có ý thức tự học, tự bồi dưõng qua dự giờ, sưu tầm và đọc thêm tài liệu.

- Động viên, khuyến khích giáo viên đi học nâng cao trình độ. Trường có 6 thạc sỹ và 3 giáo viên đang theo học thạc sỹ. Không có giáo viên nào chưa đạt chuẩn.

- Tổ chức một số hội thảo về chuyên đề dạy tốt, học tốt.

- Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tài năng trẻ. Kết hợp với chính quyền đoàn thể địa phương giáo dục học sinh.

Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng tăng với tỷ lệ học sinh lên lớp và đậu tốt nghiệp hàng năm  đều đạt cao. Học sinh lớp 12 vào Đại học, Cao đẳng hệ A đạt 71¸14%. Dưới đây là bảng thống kê số học sinh đỗ đại học, cao đẳng các năm ( Nguồn nhà trường)

 

Năm học

 

Số lớp 12

 

Số học sinh

Số HS thi đỗ vào ĐH

Số HS thi đỗ vào CĐ

Số HS thi đỗ vào THCN và DN

Tổng số

2005 – 2006

9

459

 

 

 

 

2006 – 2007

9

464

68

50

 

118

2007 - 2008

11

532

260

60

 

320

2008 - 2009

11

484

264

33

 

297

Chất lượng mũi nhọn là học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm đều được nhà trường chú trọng đã không ngừng tăng lên về cả số lượng và chất lượng. Đây là bảng thống kê số học sinh giỏi của nhà trường ( Nguồn nhà trường).

 

Năm học

Số học sinh dự thi

Số học sinh đạt giải

 

Giải nhất

 

Giải nhì

 

Giải ba

 

Giải KK

2005 – 2006

112

67

0

0

7

60

2006 – 2007

119

83

1

2

9

71

2007 – 2008

258

119

4

9

19

87

2008 - 2009

201

97

2

5

24

66

 

2.2. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

2.2.1. Những tồn tại chung về chất lượng đội ngũ giáo viên THPT. Một bộ phận giáo viên trình độ chuyên môn yếu, phẩm chất nhân cách kém. Đa số giáo viên sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục lạc hậu, nặng về truyền thụ kiến thức, ít coi trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tư duy độc lập sáng tạo và thái độ đúng đắn trong học tập, trong cuộc sống.

2.2.2. Những tồn tại riêng của trường THPT Bình Sơn.

a. Về tư tưởng chính trị, đạo đức và lý tưởng nghề nghiệp: Đa số giáo viên có tư tưởng lập trường tư tưởng chính trị vững vàng , đạo đức trong sáng, yêu nghề. Nhưng chưa có sự nhạy bén, mẫn cảm và chưa có khả năng thích ứng về mặt xã hội trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay. Bên cạnh đó có một vài thành viên chữa mẫu mực trong phẩm chất, đạo đức, như tư tưởng cá nhân vẫn còn lấn át tư tưởng tập thể, hay đòi hỏi quyền lợi, thường gắn nhiệm vụ với hưởng thụ, trả công.

Đội ngũ quản lý chưa có biện pháp giáo dục đối với bộ phận này, nhiều lúc tỏ ra chưa kiên quyết trong phê bình, đấu tranh.

b. Về lòng nhân ái sư phạm.

Bên cạnh đại bộ phận giáo viên rất yêu thương học sinh, gần gũi thương yêu, hết lòng vì học sinh, thì có một số giáo viên chưa hết lòng với học sinh. Điều đó có thể nhận ra trong tinh thần trách nhiệm, của giáo viên đối với công việc của mình. Có nhiều lúc giáo viên chưa thật sự tôn trọng và yêu cầu cao, khoan dung, vị tha đối với học sinh mà còn tỏ ra thờ ơ, vô tình. Bộ phận quản lý chưa có biện pháp bồi dưỡng.

c. Về năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm.

Đây là một tồn tại nhức nhối, là bài toán nan giải mà mấy năm vừa qua, nhà trường đã tập trung để giải quyết. Tuy có gặt hái được một số thành tựu nhưng rõ ràng nó chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện tại và tương lai.

c.1) Về năng lực chuyên môn.

Cùng với sự phát triển về số lượng học sinh, đội ngũ giáo viên có sự phát triển nhanh về số lượng. Về trình độ đào tạo, 100% đạt chuẩn. Càng về sau số giáo viên (sinh viên mới ra trường) năng lực chuyên môn càng yếu.

Nhưng điều đáng nói là tỉ lệ số giáo viên dạy giỏi tỉnh và xếp loại chuyên môn loại khá, giỏi tỉ lệ  thấp (11/64). Trong số 11 giáo viên xếp loại  giỏi chỉ có 2 giáo viên có thâm niên 2 năm công tác, còn lại là giáo viên công tác từ 5 năm trở lên. Tuy không có xếp loại yếu nhưng số giáo viên xếp loại trung bình khá cao (> 40%). Qua dự giờ thường kỳ, qua các đợt thao giảng, sinh hoạt chuyên môn trường nhận thấy: Rất nhiều giáo viên nhất là số giáo viên mới vào nghề chất lượng giảng dạy quá thấp, như: lúng túng về phương pháp giảng dạy và giáo dục, kỹ năng thiết kế giờ dạy yếu, thậm chí có giáo viên kiến thức chưa vững vàng. Về phương pháp giảng dạy còn nặng về truyền thụ, chưa đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Những tồn tại trên một phần cũng do đội ngũ quản lý chưa có biện pháp để tạo nên một môi trường, phương pháp để giáo viên nâng cao trình độ.

c.2) Về năng lực sư phạm.

Năng lực sư phạm là yếu tố quan trọng vì năng lực sư phạm quyết định sự thành bại của công tác giảng dạy và giáo dục của giáo viên. Vậy mà đa số giáo viên ở trường THPT Bình Sơn năng lực sư phạm còn ở mức độ thấp. Có nhiều giáo viên kiến thức khoa học tương đối vững nhưng thiếu năng lực sư phạm, như việc thiết kế giáo án môn học, tổ chức giờ học thiếu khoa học, nghệ thuật truyền thụ , khả năng giao tiếp với học sinh, ứng xử các tình huống trong giảng dạy và giáo dục còn hạn chế. Có nhiều giáo viên thiếu kinh nghiệm trong phương pháp giáo dục học sinh, chưa gắn việc giáo dục học sinh vào trong nội dung môn học, bài dạy. Thậm chí có giáo viên còn thờ ơ trong việc giáo dục đạo đức học sinh, xem đó là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm, của BGH, của đoàn thanh niên.

Trong công tác chủ nhiệm, có một số giáo viên chưa có năng lực tổ chức sinh hoạt tập thể, thuyết phục, cảm hóa học sinh, ứng xử các tình huống sư phạm.

d) Năng lực làm công tác xã hội hoá giáo dục.

Đa số giáo viên chưa nắm vững nội dung công tác này, họ chỉ thực hiện công tác này một cách thụ động. Họ xem đó là việc của Nhà nước, của các cấp lãnh đạo. Trong các buổi sinh hoạt lớp, họp phụ huynh, giáo viên diễn giải, thuyết trình vu vơ, hời hợt, chiếu lệ. Về phía quản lý, ban giám hiệu cũng chưa có kế hoạch, chỉ đạo sát sao, chưa triển khai cụ thể đầy đủ.

e. Năng lực về tin học.

Hầu hết giáo viên có hiểu biết gì về tin học, về máy tính, có thể thiết kế giảng dạy bằng giáo án điện tử.  Nhưng đa sô giáo viên đều ngại thiết kế và giảng dạy bằng giáo án điện tử vì phải bỏ ra nhiều thời gian để soạn bài và việc bố trí phòng học còn gặp nhiều khó khăn.

g) Năng lực ngoại ngữ.

Ngoài giáo viên ngoại ngữ, số giáo viên còn lại tuy đã được học trong trường đại học nhưng khi ra trường đều không sử dụng do đó khả năng về ngoại ngữ rất kém. Đặc biệt số giáo viên công tác lâu năm không có hiểu biết về tiếng Anh.

Nguyên nhân của hiện tượng này là do nội dung, qui trình đào tạo. Trong lúc đó nhà trường chưa có biện pháp, chủ trương học và nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giáo viên. Bản thân giáo viên chưa có tinh thần và điều kiện tự học.

h) Về học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo cơ hội phát triển

Do điều kiện trường nằm ở vùng núi, cuối tỉnh, cuối huyện nên không thu hút được đội ngũ giáo viên, nhiều giáo viên được phân về trường đã không đến nhận công tác, hàng năm giáo viên xin chuyển trường rất nhiều dẫn đến tình trạng trường thiếu giáo viên trầm trọng kéo dài triền miên trong những năm vừa qua ( năm 2008-2009 thiếu 16 giáo viên ). Từ chỗ thiếu giáo viên như vậy nên giáo viên của trường phải giảng dạy nhiều, giáo viên phải dạy đến hơn 40 tiết/tuần không có thời gian để học tập bồi dưỡng, đặc biệt là cử đi đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ. Trường vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu nào để thu hút, giữ chân, tạo cơ hội phát triển và thăng tiến cho đội ngũ giáo viên.

          Theo kết quả khảo sát 64 giáo viên  trường  THPT  Bình  Sơn  ( mẫu phụ lục 1): số ngưòi  có tổng điểm  55 điểm trở lên ( hoàn toàn hài lòng với công việc) là 22 người = 34,3%, số người có tổng điểm từ 35-55 điểm ( có vấn đề cần quan tâm) là 34 người = 53,1%, số người có tổng điểm dưới 45 điểm ( có vấn đề nghiêm trọng) là 8 người = 12,5% càng khẳng định rõ ràng những tồn tại trên.

2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC.

Ở trên là những tồn tại cơ bản trong việc quản lý nhằm  phát triển đội ngũ giáo viên, và cũng là những tồn tại trong chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn trong giai đoạn hiện nay. Những tồn tại đó là lực cản trên con đường trường THPT Bình Sơn thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục của Đảng trong thời kỳ CNH và HĐH. Trên cơ sở xác định cơ sở lý luận, pháp lý, phân tích thực trạng trong việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn, tôi nhận thấy có những vấn đề đặt ra là:

Cần bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực xã hội hoá giáo dục, năng lực ngoại ngữ, tin học, lòng nhân ái sư phạm, tạo điều kiện để giáo viên có cơ hội học tập bồi dưỡng để phát triển cho đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn. Những vấn đề này tôi sẽ giải quyết bằng những hệ thống biện pháp ở chương 3.

CHƯƠNG III

NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN.

Trong công tác phát triển giáo viên, hiệu trưởng cần quán triệt các nguyên tắc sau:

3.1.1. Đảm bảo tính hệ thống và chủ trương phát triển của Bộ GD-ĐT và Sở GD-ĐT cho giáo viên THPT. Trên cơ sở đó, nhà trường vận dụng phát triển vào thực tiễn của trường THPT.

3.1.2. Đảm bảo tính tích cực, chủ động của giáo viên trong việc bồi dưỡng và phát triển. Từng giáo viên, phải tự giác, tích cực chủ động trong việc tiếp nhận nội dung bồi dưỡng của cấp trên, đồng thời nêu cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng. Mỗi giáo viên, khi nhận thức rõ sự cần thiết phải bồi dưỡng và tự bồi dưỡng họ sẽ có động cơ, thái độ đúng đắn, có quyết tâm cao, và từ đó nâng cao chất lượng công tác.

3.1.3. Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa yêu cầu trước mắt và lâu dài. Trước mắt cần đảm bảo cho giáo viên được cập nhật những kiến thức cần được điều chỉnh và đổi mới trong chương trình môn học, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục. Về lâu dài, giáo viên cần được bồi dưỡng nâng chuẩn lên trình độ thạc sĩ, tiến sĩ để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của người giáo viên của trường THPT trong thời kỳ mới.

3.1.4. Đảm bảo vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của người quản lý trong công tác bồi dưỡng là một nguyên tắc cơ bản. Hiệu trưởng giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng. Hiệu trưởng cần giáo dục để giáo viên nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải nâng cao và tự nâng cao trình độ, năng lực. Hiệu trưởng cần thống nhất được yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ của toàn trường với mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên, thu hút mọi giáo viên vào các hình thức học tập phù hợp.

Có rất nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo viên. Với đặc điểm tình hình riêng của trường THPT  Bình Sơn và vận dụng các nguyên tắc bồi dưỡng phát triển, tôi đề xuất một số biện pháp sau:

3.2. TĂNG CƯỜNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ GIÁO VIÊN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ.

3.2.1. Nội dung tăng cường.

Những nội dung cần bồi dưỡng về nhận thức như sau:

Bồi dưỡng nhận thức về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển. Phải làm cho mọi người thấu triệt giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển cá nhân và xã hội. Giáo dục được coi là đồng nghĩa với sự phát triển. Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Nền giáo dục phát triển nhân cách mỗi cá thể và bản sắc dân tộc góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

Bồi dưỡng nhận thức về quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH.

+ Đảng ta thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.

+ Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục là: "Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học... phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ, sáng tạo của học sinh... thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước thành một xã hội học tập".

Tăng cường nhận thức về thực trạng giáo dục của đất nước, đặc biệt thấy rõ những yếu kém của nền giáo dục, như: chất lượng giáo dục - đào tạo đại trà còn thấp, đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, cơ cấu không đồng bộ, chất lượng thấp, phương pháp giảng dạy, giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai.

Tăng cường nhận thức về vai trò của người thầy giáo trong việc thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục. Phải làm cho mọi người thấy được vai trò của chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng nền giáo dục của đất nước. Mục tiêu của nền giáo dục chúng ta là đào tạo những con người phát triển toàn diện, phải tạo ra chất lượng mới cho nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Muốn làm tròn sứ mệnh cao cả đó, giáo dục phải có sự thay đổi đồng bộ trên các mặt, trong đó yếu tố có ý nghĩa quyết định là phải nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ giáo viên.

3.2.2. Hình thức tăng cường

Có thể vận dụng nhiều hình thức, như:

- Đẩy mạnh công tác chính trị - tư tưởng

- Mời cán bộ tuyên huấn nói chuyện thời sự, chính trị

- Mời các giáo sư, tiến sỹ bồi dưỡng đổi mới phương pháp giảng dạy

- Tổ chức học tập chính trị cho cán bộ, giáo viên

- Phổ biến các văn kiện của Đảng, Nhà nước

- Mua các tài liệu

- Giáo viên tăng cường đọc sách, báo, tài liệu

- Giáo viên viết thu hoạch

- Bồi dưỡng qua các sinh hoạt tập thể

- Các tổ có kế hoạch hoạt động, đăng ký nội dung nâng cao

3..3. ĐA DẠNG HOÁ CÁC NỘI DUNG, HÌNH THỨC BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN.

3.3.1. Đa dạng hoá nội dung bồi dưỡng

a) Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm

Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo đức của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người thầy cũng phải xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Người hiệu trưởng khi xây dựng phong cách người thầy phải chú ý tới hai mặt. Đó là thái độ đối với công việc và cách ứng xử trước những vấn đề, tình huống trong quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tình huống của thế thái nhân tình. Người thầy muốn làm tốt công tác giáo dục phải có tác phong mẫu mực, tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh, phải xây dựng uy tín trước học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào cũng không được làm hoen ố danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ cương, nề nếp, lương tâm, trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho thầy cô giáo thêm tự hào, gắn bó với nghề, trường để tạo động lực phát triển nhà trường.

Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng trong công tác bồi dưỡng chất lượng giáo viên. Lòng nhân ái - tình yêu thương con người là cái gốc của đạo lý làm người. Với giáo viên thì tình yêu thương ấy là cốt lõi, là cội nguồn sâu xa của lý tưởng nhân văn, là đặc trưng của giáo dục. Tình thương yêu học sinh là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo sư phạm và làm cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tình yêu thương học sinh thể hiện trong các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là điểm xuất phát của tình yêu nghề nghiệp. ý thức, thái độ và tình yêu nghề nghiệp thể hiện ở việc không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức để trở thành tấm gương sáng, gây niềm tin đạo đức trước học sinh và nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt yêu cầu về đạo đức của người thầy lên hàng đầu "Dĩ nhân như giáo, dĩ ngôn như giáo". Phải làm cho mọi giáo viên thấm nhuần khẩu hiệu "Tất cả vì học sinh thân yêu".

b) Bồi dưỡng năng lực sư phạm

Đây là một yêu cầu cơ bản, quan trọng trong công tác bồi dưỡng giáo viên. Năng lực sư phạm bao gồm: năng lực tổ chức quá trình dạy học và tổ chức quá trình giáo dục. Tri thức khoa học sâu rộng là nền tảng của năng lực sư phạm. Người giáo viên phải có tri thức khoa học sâu rộng, vững chắc để từ đó phát triển năng lực sư phạm. Do vậy cần tập trung bồi dưỡng những nội dung cơ bản sau:

Thường xuyên cung cấp cho giáo viên những điều chỉnh, hoặc đổi mới trong nội dung hoặc phương pháp giáo dục và dạy học của từng mặt giáo dục, của từng môn học trong chương trình. (Ví dụ: Thực hiện tích hợp, lồng ghép giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, giáo dục môi trường, giáo dục pháp luật…). Hoặc đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực thiết kế giáo án môn học, năng lực ra đề thi, chấm thi, trả bài.

Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực ứng xử các tình huống trong giảng dạy và giáo dục.

Đối với giáo viên chủ nhiệm cần bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động tập thể, năng lực thuyết phục, cảm hoá học sinh.

Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện các hoạt động giáo dục trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm là người cố vấn trong tập thể học sinh, là người trực tiếp giáo dục học sinh, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá công bằng, khách quan quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh trong lớp. Do đó giáo viên chủ nhiệm cần rèn luyện kỹ năng vận dụng các tri thức khoa học giáo dục vào thực tiễn sinh động và đa dạng trong quá trình giáo dục học sinh của mình.

c) Bồi dưỡng năng lực chuyên môn

Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đòn bẩy của năng lực sư phạm. Muốn có năng lực sư phạm tốt phải có năng lực chuyên môn vững vàng. Bởi "Có bột mới gột nên hồ".

Năng lực chuyên môn hay trình độ chuyên môn bao gồm nhiều yếu tố như:

- Kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan

- Phương pháp giảng dạy bộ môn với từng bài, kiểu bài

- Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và phổ biến kinh nghiệm

- Khả năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chuyên môn cho mình và đồng nghiệp.

- Chất lượng bài dạy, giờ dạy

- Chất lượng học tập của học sinh

Do đó, bồi dưỡng năng lực chuyên môn là bồi dưỡng những nội dung sau:

+ Thường xuyên cung cấp những tư liệu, tài liệu, thiết bị cần thiết liên quan đến nội dung kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ môn.

+ Phát huy, ủng hộ sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy. Đặc biệt là hiện đại hoá phương pháp giảng dạy.

+ Tạo điều kiện để giáo viên đúc rút kinh nghiệm giảng dạy.

+ Bồi dưỡng khả năng nắm bắt mục đích yêu cầu từng bài, kiểu bài; có đủ và vững vàng kiến thức để dạy tất cả các khối lớp.

+ Đánh giá đúng chất lượng giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh.

d) Bồi dưỡng năng lực công tác xã hội hoá giáo dục

Đây là một trong bảy nhóm giải pháp để phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ CNH, HĐH, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Chính nhờ chủ trương này mà nguồn lực đầu tư cho giáo dục tăng lên và làm cho bộ mặt giáo dục nước nhà khởi sắc, tạo ra một phong trào học tập rầm rộ và cả xã hội làm giáo dục.

Đối với trường THPT Bình Sơn, bước đầu nhờ công tác này mà bộ mặt nhà trường có thay đổi, nên phải tiếp tục bồi dưỡng cho giáo viên năng lực làm công tác xã hội hoá giáo dục.

Phải làm cho giáo viên nắm được nội dung, yêu cầu của xã hội hoá giáo dục là "khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên học suốt đời; tiến tới một xã hội học tập".

Phải lập chương trình kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo công tác này một cách nghiêm túc, khoa học để giáo viên có cơ sở thực hiện. Giáo viên cũng phải tự mình học tập, tự mình tạo mối liên hệ nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục học sinh. Phải phát huy vai trò người thầy trong việc phát triển giáo dục.

e) Bồi dưỡng kiến thức khoa học bổ trợ

Trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang mở rộng hợp tác và hội nhập, đặc biệt bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão, Ngoại ngữ và tin học đang trở thành thứ vũ khí không thể thiếu được đối với sự hợp tác và phát triển. ở nước ta phong trào học ngoại ngữ và tin học đang dấy lên rầm rộ. Cũng như trong nhiều nhà trường, đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn đang gặp khó khăn về trình độ ngoại ngữ và tin học. Vốn ngoại ngữ và tin học nghèo nàn đã cản trở rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục và nhiều hoạt độngkhác. Do đó phải tổ chức bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Phải tổ chức cho giáo viên học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh để giáo viên biết đọc, biết viết tiếng Anh, biết sử dụng ở mức độ cần thiết. Phải bồi dưỡng cho giáo viên hiểu được tin học, biết sử dụng máy vi tính để sử dụng hỗ trợ cho giảng dạy và các công tác khác.

Sơ đồ:

Đa dạng hoá nội dung

bồi dưỡng

 

Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức + lòng nhân ái sư phạm

 

Bồi dưỡng

năng lực chuyên môn

 

Bồi dưỡng

năng lực

sư phạm

 

Bồi dưỡng

năng lực

xã hội hoá GD

 

Bồi dưỡng

năng lực

kiến thức bổ trợ

 3.2. Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên

Để thực hiện được những nội dung bồi dưỡng trên,  tôi đề xuất các hình thức bồi dưỡng như sau:

a) Bồi dưỡng tại trường

Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng tại trường mang lại hiệu quả cao phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đa số giáo viên. Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên dạy giỏi các cấp là những cốt cán trong công tác bồi dưỡng. Họ vừa là người gương mẫu đi đầu trong việc bồi dưỡng, vừa có trách nhiệm giúp đỡ những thành viên trong tổ. Cải tiến nội dung và hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn cũng mang lại hiệu quả bồi dưỡng tốt.

Tổ chức hội giảng (như hội giảng chào mừng theo chủ điểm, hội thi chọn giáo viên giỏi trường) tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm để khích lệ giáo viên có tình yêu nghề nghiệp và say sưa bồi dưỡng tay nghề.

Tổ chức học tập, hội thảo theo chuyên đề: Có thể mời chuyên gia, chuyên viên Sở để cung cấp những kiến thức cập nhật và giải quyết những băn khoăn, thắc mắc của giáo viên khi dạy những bài khó, chương khó. Hoặc nhà trường tự tổ chức, giao cho tổ trưởng chuyên môn, những người có năng lực cao chuẩn bị nội dung theo chủ đề hội thảo. Khi đã thống nhất thì phải quyết tâm biến nó thành hiện thực sâu rộng.

Đầu tư xây dựng thư viện và tổ chức hoạt động thư viện góp phần không nhỏ trong công tác bồi dưỡng. Thư viện phải có đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn, nhiều sách tham khảo, các loại báo và tạp chí đặc biệt là báo và tập san chuyên ngành. Xây dựng phòng đọc đáp ứng nhu cầu giáo viên và học sinh. Nhân viên thư viện phải được đào tạo. Tổ chức giới thiệu sách mới, thảo luận những vấn đề mà báo chí đặt ra, thiết thực phục vụ giảng dạy và giáo dục, khuyến khích giáo viên mượn đọc, học tập.

Cần dành nhiều thời gian cho sinh hoạt chuyên môn và ưu tiên cho việc bồi dưỡng nâng cao tay nghề. Các công việc hành chính có thể thông báo trên bảng, không biến buổi sinh hoạt chuyên môn thành buổi thông báo hành chính sự vụ.

Tổ chức cho giáo viên nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Khuyến khích động viên phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm làm đồ dùng dạy học. Cần tổ chức nghiệm thu sáng kiến kinh nghiệm một cách nghiêm túc, có sự đánh giá khách quan và những sáng kiến kinh nghiệm cần được áp dụng phổ biến cho giáo viên toàn trường.

Tổ chức các lớp học ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Có thể động viên giáo viên theo học ở các trung tâm, nhưng cách làm tốt nhất là tự tổ chức tại trường bằng cách vận động, khuyến khích giáo viên bộ môn giảng dạy, giáo viên học góp kinh phí ở mức độ vừa phải và nhà trường dùng một ít tiền trong quỹ khuyến học để hỗ trợ.

b) Bồi dưỡng ngắn hạn: Cử giáo viên tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn do Sở hoặc Bộ tổ chức theo chuyên đề. Sau khi tham dự phải tổ chức phổ biến, áp dụng.

c) Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa.

Bố trí, tạo điều kiện để giáo viên tham gia các lớp  học từ xa để nâng cao trình độ trên chuẩn.

d) Học các lớp tập trung

Vận động và cử giáo viên tham gia dự thi các lớp đào tạo thạc sĩ. Nhất là những giáo viên trẻ, giáo viên có năng lực, có thành tích cao. Năm học 2007 – 2008, 2008-2009, 2009-2010 có 9 giáo viên dự thi lớp thạc sĩ  đã đậu và đang theo học tại ĐH Sư phạm Hà Nội I và ĐHQG Hà Nội.

e) Học theo cụm trường.

Tổ chức học chuyên đề cùng với các trường trong huyện, cụm có mời các chuyên viên hoặc những đồng chí có năng lực, uy tín, được tham dự các chuyên đề báo cáo. Cũng có thể liên kết với vài trường trong vùng gần nhau tự tổ chức chuyên đề để trao đổi kinh nghiệm. Trong hai năm học 2007-2008, 2008-2009 cùng với trường THPT Ngô Gia Tự tổ chức hai chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi.

g) Bồi dưỡng qua tự học, tự rèn.

Xây dựng nội dụng này thành một phong trào thi đua. Giáo viên đăng ký vấn đề tự học theo định kỳ. Sau đó viết thu hoạch trình bày để giáo viên toàn trường hoặc tổ thảo luận, đánh giá, góp ý. Đối với giáo viên phải xây dựng thành ý thức thường xuyên.

Đa dạng hoá học tập bồi dưỡng

Bồi dưỡng tại trường

Bồi dưỡng ngắn hạn

Bồi dưỡng từ xa

Bồi dưỡng tập trung

Bồi dưỡng theo cụm

Bồi dưỡng qua tự học

 3.4. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG.

3.4.1. Nội dung thi đua

Công tác thi đua, khen thưởng có một tác dụng lớn trong việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trường. Phải làm cho mọi người nhận thức được mục đích của công tác thi đua là để đánh giá công lao, cống hiến của mỗi cá nhân, tập thể, thi đua khen thưởng là để động viên, khuyến khích mọi thành viên, tập thể làm tốt hơn nhiệm vụ của mình. Thực hiện phương châm ai làm tốt sẽ được khen thưởng, sẽ được cử đi học cao học, được đề nghị để bổ nhiệm, ai vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật tuỳ theo mức độ. Công tác thi đua phải được duy trì đều đặn, liên tục và phải xây dựng được tiêu chí thi đua để mọi người phấn đấu. Đầu năm học, qua đại hội CNVC, nhà trường cho các giáo viên, tổ đăng ký danh hiệu thi đua, như giáo viên giỏi cấp trường, cấp tỉnh, tổ tiên tiến, tổ xuất sắc, danh hiệu lao đông giỏi. Trong năm học có nhiều ngày lễ lớn, tổ chức thi đua hưởng ứng chào mừng những ngày lễ lớn đó.

3.4.2. Các hình thức thi đua, khen thưởng.

- Thi đua của cá nhân và tổ để đạt các danh hiệu phải dựa vào tiêu chuẩn được nhà nước quy định và phải có tổ chức thao giảng, khảo sát.

- Thi đua trong từng tổ, giữa các cá nhân

- Khen thưởng công bằng, có khuyến khích bằng vật chất hợp lý.

          3.5. CÁC CHÍNH SÁCH THU HÚT GIÁO VIÊN

          Tìm các nguồn vốn hợp pháp để tạo quỹ thu hút giáo viên về công tác tại trường từ các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, phụ huynh học sinh cho những giáo viên khá giỏi, giáo viên là thạc sỹ về nhận công tác ở trường.

          Tham mưu với UBND huyện, UBND xã tạo điều kiện cấp đất cho giáo viên xây nhà để an cư, gắn bó lâu dài với trường.

          Những giáo viên dạy giỏi được tạo điều kiện cử đi học cao học, được bồi dưỡng nâng cao trình độ và được xem xét bổ nhiệm, đề bạt.

3.6.CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

a) Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá

Dựa vào tình hình trong và ngoài nhà trường, dựa vào tình hình đội ngũ, hiệu trưởng phải xây dựng được kế hoạch cho từng nội dung bồi dưỡng. Phải có kế hoạch dài hạn (5 - 10 năm), kế hoạch ngắn hạn (từng năm, từng tháng, tuần). Trong từng năm, từng tháng phải định hướng một số nội dung bồi dưỡng cần thực hiện. Tiếp đó phải tổ chức chặt chẽ, phải nêu rõ mục đích, yêu cầu, phương pháp thực hiện, phân công người phụ trách, thực hiện, điều tiết thời gian, kinh phí cho tập thể bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất. Triển khai, chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên. Luôn đôn đốc, kiểm tra, điều chỉnh. Để tạo điều kiện cho phong trào phát triển phải có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời.

b) Người quản lý phải nắm được đặc điểm cơ bản của tập thể sư phạm, đội ngũ giáo viên. Đó là các đặc điểm về mục tiêu, đặc điểm về lao động sư phạm, đặc điểm các yếu tố tâm lý, giá trị của tập thể sư phạm.

c) Đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên, xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong tập thể sư phạm, trong đội ngũ giáo viên.

d) Xây dựng bầu không khí tâm lý thuận lợi trong tập thể đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng cần phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội thường xuyên tổ chức những sinh hoạt tập thể, những chuyến tham quan, nghỉ mát, hội thảo, quan tâm đến những sinh hoạt tập thể, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng giáo viên. Hiệu trưởng cần hoàn thiện phong cách quản lý của mình vì phong cách quản lý của hiệu trưởng có ảnh hưởng tới bầu không khí tâm lý của  tập thể sư phạm qua tiếp xúc của hiệu trưởng với các giáo viên và điều tiết các quan hệ giữa các thành viên trong tập thể.

e) Tăng cường pháp chế XHCN, cải cách hành chính trong nhà trường nhằm xây dựng kỷ cương, nền nếp dạy và học, nhằm phát huy chức năng bộ máy nhà trường, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cộng đồng.

PHẦN KẾT LUẬN

1. MỘT SỐ KẾT LUẬN

Xuất phát từ việc xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, từ việc phân tích thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT  Bình Sơn, tôi đã lý giải và đề xuất những biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT  Bình Sơn. Những biện pháp trên có những điều  tôi đã làm và gặt hái được một số thành tựu tuy nhỏ bé nhưng đáng tự hào, cũng có những biện pháp  tôi đề xuất dựa trên cơ sở khoa học.

Qua việc triển khai công tác quản lý ở trường THPT Bình Sơn trong những năm qua, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn tôi đề xuất các biện pháp là:

- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THPT.

- Đa dạng hoá các nội dung và hình thức bồi dưỡng.

- Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng.

- Có các chính sách thu hút giáo viên.

Mặc dù đã được nghiên cứu hết sức cẩn trọng, dồn bao tâm huyết với đề tài để đề xuất các biện pháp nêu trên, còn nhiều biện pháp khác chưa có điều kiện đề cập đến. Đó chính là hướng nghiên cứu tiếp tục của đề tài. Dù cố gắng đến đâu cũng không khỏi có những thiếu sót, mong các đồng nghiệp góp ý thêm.

2. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Để thực hiện được mục đích quan trọng là phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT  tôi mạo muội có những khuyến nghị như sau:

- Với Bộ giáo dục, vụ GDTrH của Bộ sớm ban hành nội dung, chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT để các nhà trường có điều kiện thực hiện thuận lợi.

- Đối với Sở Giáo dục - Đào tạo Vĩnh Phúc: Đề nghị Sở GD-ĐT kịp thời triển khai các nội dung bồi dưỡng giáo viên, thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật, tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề bồi dưỡng bằng nhiều hình thức để giáo viên có điều kiện nâng cao trình độ. Nhất là chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học. Cho phép các trường được tự tuyển giáo viên và nhân viên.

- Đối với UBND huyện Sông Lô: Tạo điều kiện cấp đất làm nhà ở cho giáo viên để giáo viên yên tâm công tác lâu dài.

- Đối với nhà trường THPT  Bình Sơn: Cần tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên và phải thực hiện thường xuyên công tác này. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, có kế hoạch đồng bộ về việc bồi dưỡng phát triển giáo viên.

 

                                                                   Sông Lô, tháng 12 năm 2009

                                                                                   Lê Gia Thanh

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 04 Tháng 3 2011 21:45
 

Bình luận   

 
0 #1 dai i:H d-m-Y
Thực tế đến nay thì sau khi kết thúc đề tài này, Thầy đã cải thiện được những tồn tại của trường như thầy đã nêu trong báo cáo này chưa ?
Trích dẫn
 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

ĐÁNH GIÁ - NHẬN ĐỊNH

Cong_thong_tin_tuyen_sinh

Thong_tin_tuyen_sinh

Huong_nghiep

De_thi-Dap_an_DH-CD

Tu_dien_Anh-Viet

Thi_thu_Dai_hoc

Who's Online

Hiện có 9 khách Trực tuyến

ĐỒNG HỒ

THỐNG KÊ

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay95
mod_vvisit_counterHôm qua470
mod_vvisit_counterTuần này3377
mod_vvisit_counterTháng này14130
mod_vvisit_counterTất cả617153

Online: 9
Hôm nay: 26/10/2014

LIÊN KẾT WEBSITE


Bạn đang ở: Home Nghiên cứu khoa học Đề tài: Bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên